HUYNH TRƯỞNG GIA ĐÌNH PHẬT TỬ
VÀ PHÁP TU CỦA NGƯỜI PHẬT TỬ TẠI GIA
(Tiếp theo)

PHẦN III:
KINH THIỆN SINH
(Pháp tu dành cho người Phật tử tại gia) 

I. NGUYÊN DO PHẬT NÓI KINH:

Một thời Phật ở tại núi Kỳ-xà-quật, thành La-duyệt-kỳ cùng với chúng Đại Tỳ-kheo một ngàn hai trăm năm mươi người.

Vào buổi sáng hôm ấy, Đức Thế Tôn khoác y cầm bát vào thành khất thực. Lúc bấy giờ tại thành La-duyệt-kỳ có con trai ông trưởng giả tên là Thiện Sinh, buổi sáng sớm thường đến một khu vườn ngoại thành lễ bái sáu phương.

Đức Thế Tôn trông thấy bèn hỏi Thiện Sinh về ý nghĩa lễ bái sáu phương. Thiện Sinh thưa: “Khi cha tôi sắp chết có dặn tôi hằng ngày phải ra khu vườn này lễ bái sáu phương gồm các phương: Đông, Tây, Nam, Bắc, phương trên và phương dưới”.

Đức Thế Tôn bảo: “Này Thiện Sinh, vậy ngươi có biết ý nghĩa của việc lễ bái sáu phương là gì không?”

Thiện Sinh thưa: “Cúi xin Thế Tôn chỉ dạy cho con hiểu:

Đức Phật bảo con trai trưởng giả: “Hãy lắng nghe, hãy suy ngẫm kỹ. Ta sẽ nói cho ngươi nghe”.

II.TÓM TẮT NỘI DUNG KINH:

Đức Phật dạy rằng:

1) Trước khi lễ bái sáu phương, người Phật tử phải tránh không kết bốn nghiệp, cởi gỡ hai tâm và từ bỏ sáu việc.

Bốn nghiệp ác gồm: sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối

Hai tâm bất thiện gồm: tham lam, sân hận

Sáu việc tổn hại gồm: Say sưa rượu chè, đam mê cờ bạc, rong chơi phóng đãng, đàn ca xướng hát, kết giao bạn xấu, lười biếng sợ nhọc.

2) Ý nghĩa việc lễ bái sáu phương:

2.1- Lễ bái phương Đông là làm tròn bổn phận của cha mẹ đối với con cái và làm tròn bổn phận của con cái đối với cha mẹ. Cụ thể là:

*Con cái đối với cha mẹ có 5 điều:

  • Không để cha mẹ thiếu thốn
  • Muốn làm gì phải thưa cho cha mẹ biết
  • Không làm trái với điều cha mẹ làm
  • Không làm trái với điều cha mẹ dạy
  • Không ngăn cãn chánh nghiệp mà cha mẹ làm.

*Cha mẹ đối với con cái có 5 điều:

  • Thương yêu chăm sóc
  • Dạy dỗ nên người
  • Bé cho học chữ, lớn cho học nghề
  • Chọn nơi hôn phối tốt đẹp
  • Chia đều gia sản

2.2- Lễ bái phương Nam là làm tròn bổn phận của sư trưởng đối với đệ tử và làm tròn bổn phận của đệ tử đối với sư trưởng. Cụ thể là:

*Đệ tử đối với sư trưởng có năm việc:

  • Hầu hạ, chăm sóc chu đáo
  • Kính lễ và cúng dường
  • Tôn trọng và quý mến
  • Không làm trái lời dạy của thầy
  • Ghi nhớ kỹ những điều thầy dạy.

*Sư trưởng đối với đệ tử có 5 điều:

  • Dạy dỗ có phương pháp
  • Dạy những điều chưa biết
  • Giải thích rành rõ những điều trò hỏi
  • Chỉ cho trò những bạn lành
  • Dạy hết những điều mình biết, không dấu nghề.

2.3- Lễ bái phương Tây là làm tròn bổn phận của chồng đối với vợ và làm tròn bổn phận của vợ đối với chồng. Cụ thể là:

*Chồng đối với vợ có 5 điều:

  • Lấy lễ đối đãi nhau
  • Nghiêm nghị nhưng không khắc nghiệt
  • Cung cấp ăn mặc đúng lúc cần
  • Chung cấp đồ trang sức lúc cần
  • Tin tưởng giao phó việc nhà

*Vợ đối với chồng có 5 điều:

  • Ngủ sau, dậy trước chồng
  • Công dung ngôn hạnh
  • Giữ gìn tài sản
  • Kính nhường tùy thuận
  • Đoán biết ý chồng

2.4-Lễ bái phương Bắc là làm tròn bổn phận đối với bạn bè, thân quyến. Cụ thể là:

*Bổn phận của mình đối với bạn bè, thân quyến có 5 việc:

  •  Chu cấp khi cần
  •  Nói lời hòa nhã
  •  Giúp đạt mục đích
  •  Hai bên cùng có lợi
  •  Không lừa dối

*Bạn bè thân thích có 5 điều đối lại:

  •  Che chở cho mình khỏi sống buông thả
  •  Che chở cho mình không hao tài vì buông thả
  •  Che chở mình khỏi sự sợ hãi
  •  Khuyên răn nhau lúc ở chỗ vắng người
  •  Thường khen ngợi nhau.

2.5-Lễ bái phương Trên là làm tròn bổn phận người Phật tử đối với chư Tăng, Ni và chư Tăng, Ni làm tròn bổn phận đối với Phật tử. Cụ thể là:

*Phật tử đối với Tăng Ni có 5 việc:

  •  Cung kính tôn trọng
  •  Lễ bái cúng dường
  •  Thỉnh pháp chăm nghe
  •  Nghe rồi suy ngẫm
  •  Y giáo phụng hành

*Tăng Ni có sáu điều đối với Phật tử:

  •  Ngăn ngừa việc ác
  •  Chỉ dạy điều lành
  •  Khuyên dạy với thiện tâm
  •  Khiến được nghe điều chưa nghe
  •  Giải rõ những điều đã được nghe
  •  Chỉ bày con đường giải thoát.

2.6-Lễ bái phương Dưới là làm tròn bổn phận của chù đối với người giúp việc và làm tròn bổn phận của người giúp việc đối với chủ. Cụ thể là:

*Làm chủ có 5 điều đối với kẻ giúp việc:

  •  Tùy khả năng mà giao việc
  •  Cho ăn uống đầy đủ và đúng lúc
  •  Khen thưởng công lao thích đáng
  •  Cung cấp thuốc men khi bệnh
  •  Cho có thì giờ nghỉ ngơi

*Người giúp việc đối với chủ có 5 điều:

  •  Siêng năng
  •  Làm việc chu đáo
  •  Không gian tham
  •  Làm việc có phương pháp
  •  Bảo vệ danh tiếng cho chủ.

Sau khi được Phật nói rõ ý nghĩa lễ bái sáu phương, Thiện Sinh đã xin quy y Tam Bảo làm Ưu bà tắc và giữ Năm Giới.

Đức Thế Tôn dạy: “Như thế, này Thiện Sinh, bất cứ ai không kêt bốn ác nghiệp, cởi bỏ hai tâm bất thiện, từ bỏ sáu việc tổn hại và thường lễ bái lục phương; thì đời này được tốt đẹp và cả đời sau cũng được quả báo tốt đẹp; trong hiện tại được người trí ngợi khen và sau khi mạng chung sẽ được sanh vào cõi Trời”

Hết nội dung Kinh Thiện Sinh.

III.KẾT LUẬN:

Trong bài kinh Thiện Sinh dạy phương pháp tu tập riêng cho hàng Phật tử tại gia trên đây, chúng ta đọc kỹ sẽ thấy rõ:

1-Phương tiện:

Đức Phật dạy chúng ta tu theo Nhân thừaThiên thừa.

2-Cứu cánh:

Người tu theo kinh Thiện Sinh, lúc còn sống là người tốt được mọi người kính trọng ngợi khen; sau khi mạng chung được sinh vào cõi Trời làm chư Thiên.

3-Pháp tu:

Đức Thế Tôn dạy chúng ta bốn pháp tu (pháp hành):

a) Không kết 4 ác nghiệp: sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối (nằm trong ngũ giới)

b) Cởi bỏ 2 tâm bất thiện: tham lam và sân hận

c) Từ bỏ 6 việc tổn hại: Say sưa rượu chè, đam mê cờ bạc, rong chơi phóng đãng, đàn ca xướng hát, kết giao bạn xấu, lười biếng sợ nhọc. (nằm trong Bát quan trai giới)

d) Làm tròn bổn phận trong 6 mối quan hệ gia đình và xã hội:

  •  Con cái đối với cha mẹ – Cha mẹ đối với con cái
  •  Chồng đối với vợ – Vợ đối với chồng
  •  Bổn phận đối với bạn bè, thân quyến
  •  Trò đôi với thầy – Thầy đối với trò
  •  Chủ đối với người làm công – người làm đối với chủ
  •  Phật tử đối với Tăng Ni – Tăng Ni đối với Phật tử

Đây là bốn pháp tu hay pháp hành của người Cư sĩ do chính kim khẩu Đức Phật thuyết còn lưu lại trong tam tạng kinh điền cho đến ngày nay.

4-Giác ngộ và giải thoát:

Trong bốn pháp tu trên đây, người cư sĩ tùy theo sức mà tu tập. Nếu tu được trọn vẹn, rốt ráo thì cuộc sống tràn đầy hạnh phúc, được mọi người kính trọng; khi mạng chung nhất định sinh lên cõi Trời hưởng phước báu nhiều đời; còn như tu tập được phần nào thì được an vui phần ấy, cuộc sống được bớt khổ thêm vui; khi mạng chung nhất định tái sinh trở lại làm người nhiều phước báu. Giá trị giác ngộ và giải thoát của người cư sĩ Phật tử là ở mức độ thưc hiện bốn pháp tu nói trên trong đời sống hằng ngày. Người Phật tử có tu hay không cũng căn cứ vào giá trị này mà đánh giá, chứ không phải căn cứ vào việc mỗi ngày lạy Phật được bao nhiêu lạy, tụng được bao nhiêu bộ kinh, ngồi thiền được bao nhiêu giờ. Tu theo hình thức này là pháp tu dành riêng cho chư vị xuất gia.

Tóm lại, qua bài kinh Thiện Sinh trên đây, Đức Phật không dạy chúng ta bỏ hết các bổn phận trong đời sông tại gia để vào chùa tu y như chư Tăng, Ni. Vì vậy, người cư sĩ cần phải gạt bỏ định kiến Ai có tham dự những khóa tu do nhà chùa tổ chức mới là người có tu; Ai không tham dự các hình thức tu ấy là người không có tu.

Huynh trưởng GĐPT chúng ta cũng cần quán triệt điều này để cởi bỏ tự ti mặc cảm “mình là người thiếu tu” do định kiến sai lầm nói trên gây ra.

Ong Mật

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây