Giác ngộ là gì?

Nói nôm na, giác ngộ là hiểu biết. Nhưng giữa giác ngộ và hiểu biết còn một khoảng cách rất lớn. Vì nói đến “hiểu biết”, người ta chỉ cần có nhiều thông tin và ít nhiều kiến thức là đã được gọi là “người hiểu biết”; Còn nói đến “giác ngộ” là chúng ta đã mở cánh cửa để bước vào phạm trù của chân lý tuyệt đối . Muốn nắm được chân lý, con người không thể sử dụng kiến thức tầm thường, mà phải vận dụng đến TRÍ TUỆ (Phật Tri Kiến),

Lại nữa, ở mức độ “hiểu biết”, người ta chỉ cần nghe ngóng, nắm bắt thông tin, hoặc học hỏi kiến thức qua sách vở, hay do thầy cô truyền đạt cho trong những tháng ngày ngồi ghế nhà trường… Nhưng nếu muốn bước lên bậc thềm “giác ngộ”, con người phải khéo vận dụng tư duy (Thiền Định) và nhất là phải thể nghiệm qua chính bản thân mình (lộ trình tu tập). Nói tóm lại, giác ngộ là kết quả của một quá trình tư duy và trải nghiệm. Quá trình ấy diễn ra dài hay ngắn, thuận lợi hay khó khăn… là còn tùy nơi biệt nghiệp (chánh báo) và cộng nghiệp (y báo) của từng người . Vì vậy lộ trình của người Phật tử luôn gắn liền với hai chữ VĂN – TƯ –  TU .

Mặt trái của Giác ngộ là Vô Minh. Giác ngộ là sự hiểu biết thì vô minh chính là sự si mê . Giác ngộ là ánh sáng thì vô minh là bóng tối. Giác ngộ là an vui thì vô mình chính là phiền não. Giác ngộ đem lại giải thoát cho nhân loại thì vô minh là nguyên nhân khiến loài người còn ngụp lặn hoài trong biển khổ mênh mông.

Phật dạy: “Tất cả chúng sanh sinh ra trong cõi Ta Bà đều chất chứa sẵn Vô Minh”.

Giải thoát luôn đi liền với giác ngộ, hay nói cách khác, giải thoát chính là hoa trái của giác ngộ. Thí dụ đơn giản nhất: Một chú bé đang ngủ, nửa đêm giật mình thức giấc bỗng thấy một bóng ma đứng ngay bên cạnh giường. Chú sợ quá, hét to lên. Mẹ chú thức dậy bật đèn sáng , nhìn kỹ lại , hóa ra chỉ là chiếc áo mưa của bố máng trên cây cọc giăng mùng lúc chiều qua. Nhờ hiểu biết một cách chân thật rằng “bóng ma” ấy chỉ là chiếc áo mưa mà chú bé đã giải thoát ra khỏi nỗi sợ hãi.

Một thí dụ khác từ tích xưa: Một ngày kia Khổng Tử đang trên đường cùng với các môn sinh đi du thuyết từ nước Lỗ sang nước Tề. Gặp lúc nước Tề đang mất mùa vì hạn hán và dân chúng bị đói khổ cùng cực khắp nơi. Thầy trò Khổng Tử cũng phải ăn khoai mì, măng tre … thay cơm. Một hôm thầy trò Khổng Tử được một người đem đến biếu một ít gạo, đủ để nấu một nồi cơm, Thầy trò, ai cũng tỏ ra phấn khởi, vui mừng. Bấy giờ Tử Lộ có nhiệm vụ dẫn anh em vào rừng hái rau, còn Nhan Hồi thì được phân công ở nhà nấu cơm. Khổng Tử lúc đó đang nằm đọc sách ở nhà trên, bỗng nghe thấy có tiếng động từ bếp vọng lên. Ngài tò mò nhìn xuống dưới bếp thì nhìn thấy Nhan Hồi đang dùng đũa lấy cơm trong nồi ra, để lên tay và nắm lại từng nắm nhỏ. Sau đó nhìn trước nhìn sau không thấy ai, anh ta đậy nắp nồi lại rồi đưa từng nắm cơm vào miệng nuốt lấy nuốt để. Nhìn thấy mọi cử chỉ của Nhan Hồi Khổng Tử chỉ biết lắc đầu thở dài và ngửa mặt lên trời than rằng: "Ôi chao, học trò bậc nhất của ta mà lại ăn vụng hèn hạ như vậy sao? Bao nhiêu kỳ vọng ta đặt vào nơi hắn thì bây giờ đã tan thành mây khói hết". Khi bữa ăn đã dọn xong và thầy trò đều ngồi vào bàn , tất cả mọi người đều lấy bát xới cơm, chỉ riêng Nhan Hồi là không. Khi được hỏi lý do, anh ta đáp rằng: "Thưa Thầy, vì trong lúc mở vung ra xem cơm trong nồi đã chín đều chưa, thì tự nhiên cơn gió mạnh thổi đến, làm cho bụi bặm và bồ hóng ở trên gác bếp rơi xuống. Con vội đậy vung lại nhưng vẫn không kịp, cơm trong nồi đã có đầy bụi ở mặt trên. Vì vậy, con dùng đũa lấy ra lớp cơm bẩn định sẽ đem vất đi. Nhưng rồi con lại nghĩ rằng: Thầy trò ta lâu không được ăn cơm. Mà số cơm bẩn lại nhiều tương đương với phần ăn của một người. Do đó con đã mạn phép thầy và các anh em để ăn trước phần cơm bẩn ấy. Thưa Thầy, thế là hôm nay con đã được ăn rồi và bây giờ con chỉ ăn thêm phần rau thôi. Vừa nghe Nhan Hồi nói xong, Khổng Tử ngửa mặt lên trời than rằng: "Ôi chao! Thế là trên đời này cũng có những sự việc chính mắt ta trông thấy tỏ tường mà vẫn không biết rõ thực hư! Suýt nữa ta trở thành một kẻ xét đoán hồ đồ và bất công rồi".

Qua câu chuyện trên đây, Khổng Tử nhờ hiểu được chân tướng việc “ăn vụng” của Nhan Hồi mà Ngài đã giải thoát ra khỏi nỗi phiền muộn, thất vọng đối với người học trò cưng.

Bất cứ ai sống trên đời đều ít nhất một lần trải nghiệm cái cảm giác nhẹ nhàng dễ chịu sau khi hiểu được chân tướng sự việc để rồi trút bỏ được gánh nặng buồn lo, khắc khoải, giận hờn… trước đó đã đòi phen làm khổ tâm trí mình. Đó chính là một hình thức sơ đẳng nhất của Giác ngộ và Giải thoát mà chúng ta đang đề cập trong bài này. Chỉ nhờ hiểu biết chân tướng sự việc mà con người ta đã hưởng được những giây phút thảnh thơi, an vui như thế, cho thấy giác ngộ và giải thoát luôn là điều mà ai ai cũng mong ước có được. Tuy nhiên, trong thực tế đời sống, chỉ nói những việc nhỏ thôi, thì những sự việc chúng ta may mắn biết được chân tướng của chúng là rất ít, còn những sự việc mà chúng ta chưa hiểu rõ sự thật về chúng thì rất nhiều. Nhiều đến nỗi Đức Phật gọi đó là Vô Minh.

 

Như trên đã nói, mục đích của tất cả người con Phật trên thế gian này là giác ngộ & giải thoát. Cách đây 2.600 năm, sau khi chứng được Vô Sanh Pháp Nhẫn, thành Bậc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, Đức Bổn Sư của chúng ta đã sử dụng 49 năm trụ thế của Ngài để đem Tri Kiến Phật mà hoằng truyền ra khắp nơi bằng nhiều phương tiện cốt là để giúp cho con người đi đến chỗ giác ngộ & giải thoát. Từ ấy đến nay, số người được giác ngộ và giải thoát cũng không ít, tuy nhiên giác ngộ và giải thoát đến mức tuyệt đối như Đức Thích Ca thì chưa có ai đạt tới. Theo sử sách để lại, thời Đức Phật còn tại thế, số đệ tử của Phật đạt đến sự giác ngộ giải thoát gần như Phật gồm có trên 1.250 vị A La Hán; còn giác ngộ và giải thoát ở tầng mức thấp như các quả vị Tu đà hoàn, Tư đà hàm, A na hàm thì vô số kể. Số người đạt các quả vị trên gồm có cả người xuất gia lẫn người tại gia.

 

Quý vị xuất gia dễ đạt tới sự giác ngộ và giải thoát hơn người tại gia vì:

-Hàng xuất gia đã rời bỏ đời sống gia đình; sống độc thân suốt đời, không màn đến công danh, phú quý, địa vị, tiền tài của thế gian; không bị ràng buộc bởi trách nhiệm với vợ, chồng, con cái… để sống cuộc sống thiểu dục tri túc. Quý Thầy dành cả thời gian cho việc học và tu theo lời Phật dạy. Nhờ vậy mà quý Thầy dễ đạt sự giác ngộ và giải thoát cho bản thân. Tiếp đó, quý Thầy theo gương Đức Phật, đem những kinh nghiệm trên đường tu tập của mình hướng dẫn lại cho hàng tại gia.

-Người tại gia vẫn đạt được sự giác ngộ và giải thoát, tuy nhiên về điều kiện thuận lợi thì không được như chư vị xuất gia. Lý do vì người tại gia hằng ngày phải mang nặng bổn phận và trách nhiệm đối với gia đình; phải chạy vạy lo ăn từng bữa, đầu óc lúc nào cũng bận bịu với danh lợi, hơn thua, đấu tranh giành giựt miếng cơm manh áo với người chung quanh. Tất cả thời gian và sức lực chúng ta đều dành trọn cho tranh đấu và hưởng thụ… Vì vậy mà chúng ta thiếu thuận duyên cho việc tu tập để được giác ngộ và giải thoát. (còn tiếp)

 

LỆ TÍCH

(TP. Hồ Chí Minh)


BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here